Bệnh lý nguyên bào nuôi do thai nghén (Gestational Trophoblastic Disease: GTD) là một thuật ngữ chỉ một nhóm bệnh lý xuất phát từ tế  bào nhau thai phát triển bất thường gây nên bao gồm: Thai trứng toàn phần, Thai trứng bán phần, Thai trứng xâm nhập, Ung thư nguyên bào nuôi, U nguyên bào nuôi tại vị trí nhau bám. Năm 2000 FIGO và IGCS họp tại Wasington DC thống nhất dùng thuật ngữ bệnh lý tăng sản nguyên bào nuôi (Gestational Trophoblastic Neoplasia: GTN) để chỉ nhóm bệnh lý nguyên bào nuôi ác tính thay thế cho các thuật ngữ cũ (Chorioadenoma destruens, Metastasizing mole và Choriocarcinoma).
    1.Tiêu chuẩn chẩn đoán GTN
Bệnh nhân theo dõi sau thai trứng có một trong các tiêu chuẩn sau:
    o Nồng độ βhCG tăng >10% trong 2 tuần liên tiếp 
    o Nồng độ βhCG bình nguyên ±10% trong 3 tuần liên tiếp 
    o Xuất hiện nhân di căn: âm đạo, phổi, gan lách, thận, não…
    o Giải phẫu bệnh trả lời ung thư nguyên bào nuôi hay thai trứng xâm lấn
    2. Sơ đồ tổng quan chẩn đoán – đánh giá – theo dõi điều trị  GTN

                                            
                
                

                
                       

    Nguy cơ thấp < 6 điểm
    Nguy cơ cao ≥ 7 điểm

    3.1. Phác đồ điều trị GTN 
    Nguy cơ thấp: Giai đoạn I,II,III – điểm nguy cơ < 6 điểm
    • Methotraxate 1mg/kg  giải độc bằng Acid folic 0,1mg/kg 
    • Lập lại sau 2 tuần
Nguy cơ cao: Giai đoạn I,II,III – điểm nguy cơ ≥ 7 điểm hoặc giai đoạn IV
    • EMA.CO
    • Lập lại sau 2 tuần

    3.2. Đánh giá tiêu chuẩn khỏi bệnh khi βhCG < 5 mUI/ml

    3.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán kháng thuốc
    o Sau mỗi đợt điều trị βhCG không giảm hoặc tăng lên
    o βhCG giảm <10% sau 2 tuần
    o Xuất hiện nhân di căn mới
    o Nếu sau 2 tuần βhCG giảm < 25% nên thay hoá chất khác